CẨM NANG HẠNH PHÚC

Thầy Thái Lễ Húc giảng thuật


CHƯƠNG 2 – HỌC TẬP THIÊN (CHƯƠNG HỌC TẬP)

1. DẠY CON CÁI BIẾT HỌC LÀM NGƯỜI NHÂN TỪ QUÂN TỬ

Quân tử hữu cửu tư (Quân tử có chín điều phải tư duy)

Làm người, trước hết phải học để làm quân tử, làm quân tử như thế nào? Phu Tử trong “Luận Ngữ” có nói đến Quân tử có chín điều cần tư duy:

  1. Thị tư minh (nhìn thấy gì phải suy nghĩ, tìm hiểu cho minh bạch)
  2. Thính tư thông (nghe thấy gì phải suy nghĩ thật thấu đáo nghĩa lý)
  3. Sắc tư ôn (sắc mặt thì giữ cho ôn hoà)
  4. Mạo tư cung (diện mạo thì giữ cho đoan trang, cung kính)
  5. Ngôn tư trung (lời nói phải giữ cho trung thực)
  6. Sự tư kính (làm việc thì phải luôn kính cẩn)
  7. Nghi tư vấn (khi có điều nghi hoặc thì phải hỏi han)
  8. Phẫn tư nan (khi giận phải nghĩ tới hậu quả tai hại sẽ xảy ra)
  9. Kiến đắc tư nghĩa (thấy mối lợi thì tuy duy về điều nghĩa)

Thị tư minh

Thị tư minh“, chính là những sự việc mà chúng ta nhìn thấy, đều có thể hiểu rõ thật thông suốt được cái nhân nào mà tạo thành kết quả, là đạo lý nào mới hiện ra cái sự tướng như vậy. Sư Trưởng tham gia hội nghị của Liên Hợp Quốc, ở Hội nghị, Sư Trưởng hỏi họ:

– Muốn giải quyết xung đột của thế giới, xung đột của quốc gia với quốc gia, đoàn thể với đoàn thể, xin hỏi nguyên nhân sâu xa của xung đột là ở đâu?

Sư Trưởng vừa hỏi như vậy, các chuyên gia tham dự hội nghị có trả lời được hay không? Chẳng trả lời nổi! Giống như chúng tôi hỏi các bậc cha mẹ:

– Con cái tự tư tự lợi là kết quả, nguyên nhân là ở đâu? Con cái học tập không tốt là kết quả, nguyên nhân là ở đâu?

Sư Trưởng tiếp tục nói với họ, là xung đột ở trong “gia đình”. Giữa vợ chồng xung đột rồi, con cái từ nhỏ đã ở trong hoàn cảnh này mà trưởng thành, làm sao có thể có được nhân cách hoàn thiện? Tất nhiên là tự tư tự lợi. Tiếp đó, Sư Trưởng lại đề cập, gia đình cũng không có căn bản thực sự, căn bản là ở đâu? Là xung đột giữa tự tánh và tập tánh, chính là xung đột giữa việc lợi mình và lợi người. Khi tồn tâm của một người đều là tự tư tự lợi, tự nhiên như vậy cái biểu hiện ra chính là cạnh tranh, đấu tranh và chiến tranh; khi ý niệm của con người là tâm nhân từ, nơi nơi vì người mà suy nghĩ, có thể có sự tồn tâm như vậy, tất cả xung đột, chiến tranh trong thể gian sẽ không xảy ra. Chỉ có từ trên nguyên nhân mà bắt tay làm, mới có thể giải quyết triệt để vấn đề.

Tình hình của thế giới như vậy, tình trạng của gia đình cũng như vậy. Khi phát hiện ra khoảng cách của con cái và chúng ta ngày một cách xa, chúng ta nhất định phải suy ngẫm, vì sao có cái kết quả này? Có phải chúng ta quan tâm quá ít hay không? Nếu như quan hệ nhân tế của chúng ta có chỗ không tốt, tuyệt đối không được đổ trách nhiệm lên người khác, nhất định phải quay lại mà suy nghĩ: “Là mình làm chỗ nào chưa được tốt thì mới hiện ra kết quả như thế này“. Khi chúng ta đã có thể tìm ra được nguyên nhân, thì càng sống sẽ càng minh bạch, phải học tập làm một người minh bạch.

Thính tư thông

Chúng ta phải từ trong lời nói của người khác, nghe ra được nhu cầu của đối phương. Ví dụ như mẹ gọi điện thoại đến, mặc dù không bảo chúng ta về nhà, nhưng ngay trong cách nói chuyện, có thể nghe ra được rằng mẹ rất nhớ con nhớ cháu, rất muốn nhìn thấy chúng ta. Lúc này chúng ta phải “thính tư thông“, nghe ra cái ẩn ý trong đó, không cần cha mẹ phải mở lời cũng phải chủ động về thăm hỏi cha mẹ. Khi chúng ta nghe thấy đoàn thể này vừa xuất hiện thị phi nhân ngã thì đừng dính líu vào. Thậm chí là chúng ta ở trong lúc trò chuyện với người, có thể nghe ra được tư tưởng, quan niệm hiện tại của họ có những mong chờ gì, một điểm này cũng phải rèn luyện bản thân.

Chúng ta cũng phải nghe ra được sự khốn khổ hoặc chấp trước của một người. Từng có một vị thầy giáo, sau khi thấy ấy nghe xong khoá học của chúng tôi thì rất cảm động, thấy ấy nói trước đây chưa nghe khoá học của chúng tôi, tư tưởng của thầy rất tiêu cực, có ý niệm tự sát. Sau năm ngày nghe giảng, thầy ấy cũng có một số thể hội về cuộc sống, biết được phương hướng của cuộc sống, thầy nói:

Thầy Thái, giống như Thầy thì mới có thể vì xã hội làm ra những việc này, chúng tôi không làm được!

Có phải là không làm được hay không? Không phải! Kì thật, thầy ấy ở trên trường dạy học so với việc làm này của chúng tôi về căn bản không phải là hai, nếu như thầy ấy dạy học mấy chục năm, có thể dạy ra hai, ba Phạm Trọng Yêm, bốn, năm Tăng Quốc Phiên, thế thì công đức của Thầy vô lượng vô biên! Con người đều là gặp duyên không đồng, chỉ cần ở ngay trong lúc gặp được duyên mà tận tâm tận lực, cũng là công đức viên mãn, không phân cao thấp.

Tôi nói với vị bằng hữu này rằng: chúng ta giống như đang đối mặt trước biển lớn, chỉ cần chúng ta hoà giọt nước này vào trong biển lớn thì so với biển lớn không hai không khác; chúng ta đừng như như giọt nước này đứng đó nhìn xem, “bạn tốt nhiều, tôi tốt ít“. Đây là “thính tư thông“, nghe ra được sự phân biệt của người khác thì chúng ta có thể hướng dẫn họ buông xuống sự phân biệt này, hoà chung vào trong một khối chân thành, một khối từ bi, một khối thanh tịnh của cả thế giới này.

Sắc tư ôn

Sắc” là chỉ cho vẻ mặt của chúng ta, biểu lộ trên khuôn mặt của chúng ta. Nếu như sắc mặt nhìn như trái mướp đắng (khổ qua), để lại cho người khác ấn tượng đầu tiên chính là quái quái. Tôi nghe nói người có cái miệng cong lên là người có tiền hơn, người có cái miệng lõm xuống là người ít có tiền hơn, cho nên người ta nói, nhìn tướng khuôn mặt của một người thì biết được cái mà họ gặp được chính là phước lành hay hoạ hoạn, có cái loại khuynh hướng này không? Có! Hoá ra nghiệp chướng có người dẫn, là dẫn đến thiện nghiệp, hay là dẫn đến ác nghiệp? Mấu chốt ở tâm của bạn. Tục ngữ nói: “Hoạ vô đơn chí“, vì sao vậy? Khi chúng ta gặp phải hoạ, tâm càng dần càng tiêu cực, đương nhiên ác duyên cũng đến. Cho nên, chuyển đổi ý niệm rất quan trọng, tướng do tâm sinh.

Kinh giáo cũng bàn đến “Diện thượng vô sân cung dưỡng cụ” (khuôn mặt không sân hận cũng là đồ cúng dường), chúng ta thời thời hoan hỉ đối đãi với người, chính là quảng tu cúng dường, là bạn đang bố thí vô uý, không làm cho người ta khởi phiền não. “Diện duyệt thường đức” (khuôn mặt phấn khởi thường sinh đức hạnh), khuôn mặt của một người thường thường rất phấn khởi, rất hoan hỉ, đó là sự lưu lộ của đức hạnh. Khi chúng ta bước vào cổng chùa, trước tiên phải học gì? Bồ Tát Di Lặc thường nở nụ cười trên môi. Đương nhiên bạn không cần phải là từ nay trở đi gặp ai cũng cứ cười, làm quá chẳng bằng cẩn thận. “Sắc tư ôn” cũng phải phù hợp với đạo trung dung, không thể thái quá, chính là không được khôi hài quá, cũng không được nghiêm túc quá.

Luận Ngữ” có nói đến học trò cảm thấy Phu Tử là “vọng chi nghiễm nhiên, tức chi dã ôn“, nghĩa là xa xa nhìn thấy thật uy nghiêm, khi thân cận thì cảm giác Phu Tử chung sống rất tốt, đây là làm đến được “sắc tư ôn“. Cái trình độ đó làm thế nào để nắm bắt, chúng ta có thể ở ngay trong đời sống mà trải sự luyện tâm. Khi một người bạn mới quen đến nói với bạn: “Sao mà tôi nhìn thấy bạn thì cảm giác rất là thân thiết“, như vậy là “sắc tư ôn” của bạn đã làm được không tệ. Nếu như người bạn mới mà nói: “Giống như là tôi thiếu nợ tiền của bạn vậy, sắc mặt thật khó ưa“, lúc này bạn phải sửa lại một chút biểu hiện của mình, bởi vì dù trước đó lời nói còn chưa có cảm ứng, câu thông với nhau, nhưng trên thực tế đã có sự giao lưu rồi.

Tôi nhớ năm đầu tiên tôi đi dạy, là đến một ngôi làng ở Khách Gia để dạy. Tôi không biết nói tiếng Khách Gia, cho nên sợ rằng với các bậc cha mẹ có cảm giác khoảng cách. Một số vị đồng nghiệp của tôi đã có con nhỏ, mỗi buổi sáng họ còn phải nhanh nhanh đi làm công tác đón trẻ, đưa những đứa trẻ này vào trường, họ bận hơn tôi rất nhiều. Chúng ta phải “quảng tu cúng dường“, phải hành bố thí, sẽ phải cho các đồng nghiệp sự thuận tiện, lại cho chính mình cơ hội để bố thí cho đại chúng, còn có thể thu hẹp khoảng cách giữa các đồng nghiệp với nhau, vừa tính đến đó, vui vậy mà chẳng làm! Lúc đó tôi ở lại trong trường, Thứ bảy, Chủ nhật mới về nhà, tôi đã hoan hoan hỉ hỉ giúp họ làm công tác đón trẻ.

Tôi bắt đầu đứng ở cổng trường để tu bố thí, tu trì giới, tu nhẫn nhục, xe vừa đi đến, tôi liền chủ động đến giúp các bạn nhỏ mở cửa xe. Mở cửa xe rồi, rất nhiều cặp sách của các em còn chưa đeo vào được, tôi thuận tay giúp các em đeo vào. Mặc dù tôi với cha mẹ học sinh không có giao lưu ở lời nói, xin hỏi phụ huynh của học sinh nhìn thấy cái màn này sẽ có cảm nhận gì? Khoảng cách liền bắt đầu thu hẹp rồi. Có một số phụ huynh, ngày đầu tiên đi xe máy đưa con cái đi học, mặt chẳng có biểu cảm gì. Khi họ lại đến ngày thứ ba, ngày thứ tư, tôi còn chưa nói “Chào buổi sáng” thì họ đã nói “Chào thầy ạ!”. Cho nên, giữa người với người, chúng ta phải biết hành động để mở rộng vòng tay bè bạn.

Một ngày nọ, có một học sinh đến tìm tôi nói:

– Thầy ơi, em nói với Thầy một sự việc, Thầy đừng có giận.

Tôi nói:

-Việc gì thế? Em nói đi!

Em ấy nói:

– Mẹ con cảm thấy Thầy giống như đang bầu cử đại biểu quốc hội, giống như đi vận động phiếu bầu từ mọi người vậy, xin chào, xin chào!

Đây là “sắc tư ôn“, khuôn mặt chúng ta chính là bước đi đầu tiên trong mối quan hệ nhân tế (mối quan hệ giữa người với người).

Mạo tư cung

Mạo” chính là chỉ cho tất cả ngôn ngữ cơ thể của chúng ta, biểu hiện ra cảm giác mang đến cho người khác, phải thật cung kính, không được thô lỗ, không được nóng vội, nếu không sẽ khiến người thấy áp lực. Trong giáo huấn của nhà Nho có nói đến “Uy nghi tam thiên” (ba nghìn oai nghi), đều là làm cho chúng ta có thể “mạo tư cung“.  Làm sao để cho cử chỉ, hành vi của chính mình khiêm cung cẩn thận, từ chỗ nào mà bắt tay vào làm? Chúng tôi có một người bạn nói rằng sau khi anh ấy học “Đệ Tử Quy“, chỉ cần là chén trà nóng đầu tiên, nhất định là ngay ngắn mà mời mẹ uống. Bạn học của anh thường hay đến nhà anh làm khách, có lần đúng lúc anh đi ra ngoài, bạn của anh đã lấy ấm ra để rót trà, ly trà đầu tiên mà bạn của anh rót cũng là mời ai? Cũng là mời mẹ của anh ấy. Cho nên, sự cảm hoá của đức hạnh là thay đổi một cách âm thầm lặng lẽ, chúng ta ở trong nhà thì phải không ngừng rèn luyện sự khiêm cung đối với người lớn, khiêm cung đối với người khác.

Mà tâm hành nhất như (tâm và hành động là như nhau), khi tâm của chúng ta thời thời có thể chân thành, thanh tịnh, từ bi, thì hành vi sẽ tương ứng theo, lời nói, hành vi ở trong vô hình trung cũng sẽ càng ngày càng thong thả, càng ngày càng nhẹ nhàng.

Ngôn tư trung

Lời nói (ngôn ngữ) nhất định phải vừa vặn hợp lý. “Trung” (忠) là chữ hội ý, một chữ “Trung” (中) và một chữ “Tâm” (心), đại biểu cho tâm không được ích kỉ, không được thiên lệch. Khi lời nói của chúng ta ích kỉ, thiên lệch thì bạn bè, người thân nghe thấy sẽ chẳng dám tuỳ tiện đồng ý, cho nên lời nói cũng là phải luôn nghĩ mở rộng ra cái chung, nhất định phải lấy tâm thái công bằng chính trực để nói ra thì mới tốt. Chỉ cần lời nói, hành vi có sự ích kỷ, đến sau cùng nhất định sẽ có oán giận, sẽ có oán hận xảy ra. Cho nên trong lời nói, chúng ta cũng phải trung thành (dốc hết lòng thành).

Sự tư kính

Chữ “Kính” (敬) và chữ “Cung” (恭) trong ngoài hỗ trợ nhau, kính là ở nội tâm, cung là biểu hiện ở hành vi bên ngoài. Đối với những việc mà chúng ta nên làm, đã hứa với người khác việc gì, nhất định phải vô cùng cung kính mà đi hoàn thành, đó gọi là “thụ nhân chi thác, trung nhân chi sự” (nhận người phó thác, dốc lòng với việc), phải làm một người có tín nghĩa. Việc mà chúng ta hứa với người khác, chỉ sợ sẽ quên mất, nhất định phải ghi chép lại, như vậy mới có thể biểu hiện ra được thái độ cẩn thận của chúng ta đối với bất kỳ việc gì. Tín nghĩa ngoài lời nói phải giữ tín ra, đối với bổn phận ngũ luân, đạo nghĩa, ân nghĩa của ngũ luân, không đợi đối phương yêu cầu, chúng ta cũng phải tận tâm tận lực đi làm, đây mới là “sự tư kính“.

Nghi tư vấn

Có nghi hoặc thì phải biết xin lời khuyên ở nơi người, mà xin lời khuyên ở người nhất định phải hỏi đúng người. Thế nhưng hầu hết mọi người ở khi gặp vấn đề thì thông thường đều là hỏi một số người có thể sẽ đồng quan điểm với bản thân họ, điều này có thể chẳng có cách gì nhận được lời khuyên thoả đáng, do đó nhất định phải hỏi người có đạo đức, có học vấn thực sự, mới có thể giúp chúng ta giải đáp nghi hoặc. Thân cận người nhân trước hết phải dùng hư tâm (không tự cho là đủ) để thọ giáo, bản thân trước hết phải quay về con số không, cũng chính là trước hết đem đổ nước trong cốc cho hết sạch, dần dần nghe hiểu rõ ràng đạo lý thì rất nhiều nghi hoặc sẽ được giải quyết. Ngàn vạn không được có thái độ còn chưa bắt đầu nghe giảng, mà đã đem cả mười, hai mươi cái nghi hoặc đều đưa ra hết, nếu thật như thế, chính là nghĩ càn nhớ loạn, đến lúc vừa nghe giảng lại vừa ở đó nghĩ tưởng các vấn đề.

Khi bắt gặp nghi hoặc không có cách giải trừ, chúng ta có thể “tâm hữu nghi, tuỳ trát ký” (tâm có nghi, thì chép lại), trước hết ghi chép lại, gặp thời cơ thích hợp nhanh chóng thỉnh giáo, “tựu nhân vấn, cầu xác nghĩa” (học hỏi người, mong chính xác). Trong quá trình tôi học tập với Sư Trưởng, cũng không có cơ hội thỉnh giáo mà hỏi, nhưng rất kỳ diệu, mỗi lần trong tâm có một số nghi hoặc, hoặc là trong cuộc sống có một số vấn đề không có cách gì giải quyết, chỉ cần xem Sư Trưởng giảng kinh, không vượt quá 15 phút đã giải quyết được. Tại sao vậy? Thứ nhất là chúng ta dùng tâm cung kính để tiếp nhận sự dạy dỗ; thứ hai là lời nói của Sư trưởng là lưu lộ từ tự tánh, khi chúng ta có thể dụng tâm để lãnh thụ, tự tánh của chúng ta cũng sẽ được thức tỉnh, tâm lượng cũng sẽ được mở rộng, tâm lượng vừa mở rộng thì chướng ngại vốn có tự nhiên sẽ được phá trừ. Kì thật, đây đều là do phân biệt, chấp trước của chính mình chướng ngại, chỉ cần đem phân biệt chấp trước buông xuống, vấn đề sẽ chẳng còn tồn tại nữa. Hai ba năm đầu học tập đều là như thế, tôi luôn thử chẳng thấy sai, sau này dần dần vừa nắm được cương lĩnh giáo huấn của Thánh Hiền, vừa trải sự luyện tâm, hơn nữa không sợ niệm khởi chỉ sợ giác chậm, khi ý niệm vừa khởi lên, lập tức có thể quán chiếu thì có thể chuyển niệm. Chúng ta không có quá nhiều thời gian để tự tìm ra phiền não, có quá nhiều công việc muốn chúng ta đi làm.

Phẫn tư nan

“Ngôn ngữ nhẫn, phẫn tự mẫn” (Lời nhường nhịn, tức giận mất), nhất định phải kiểm soát được cảm xúc, tính nóng nảy. Có câu: có thể kiểm soát cảm xúc mới có thể nắm giữ tương lai, nếu như cảm xúc, tính nóng nảy của chúng ta không kiểm soát được, rất nhiều việc có thể đều bởi một chút giận dữ mà hỏng việc. “Nhất niệm sân tâm khởi, hoả thiêu công đức lâm“, “Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai“, cái nộ khí này đã che lấp tất cả những thiện căn của chúng ta, không chỉ làm hại chính mình, mà lời nói sân hận một khi nói ra, cũng làm hại cho tình bạn. Cho nên, tình bạn ba năm có thể chỉ một lời nói lạnh lùng, sự nồng ấm đã mất hết toàn bộ. Rõ ràng sau khi phẫn nộ rồi rất khó vợi lại, nên phải nhanh chóng tiết chế cơn phẫn nộ của chính mình. Làm sao để tiết chế cơn phẫn nộ? Phải trải sự luyện tâm, khi bạn sắp sửa muốn nổi giận, vừa nhìn thấy người đó thì không nhẫn được, làm sao đây? Lúc này không được miễn cưỡng, trước hết phải hoà hoãn một chút, rời khỏi hiện trường, “xin lỗi, tôi đi vệ sinh!” Sau đó nhanh chóng phải hít thở thật sâu, nhưng mà lúc bạn ra khỏi cửa thì không được đóng cửa lớn tiếng, giữa việc tiến thoái, có thể theo tình hình mà định, không được miễn cưỡng.

Kiến đắc tư nghĩa

“Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo” (Quân tử thích tài, chọn chỗ có đạo), bất cứ điều gì mà bạn muốn đạt được, phải nghĩ đến có xứng đáng hay không, có phù hợp với đạo nghĩa, lòng người, pháp luật quốc gia hay không, nếu như không xứng đáng thì không được tiếp nhận. “Lễ Ký” cũng nói đến, “Lâm tài vô cẩu đắc, lâm nan vô cẩu miễn” (thấy tiền không vội lấy, thấy khó không vội bỏ), người đọc sách thời xưa đều là “tam cương thật hệ mệnh, đạo nghĩa vi chi căn” (tam cương tựa mạng sống, đạo nghĩa làm gốc rễ), đối diện với hiện thực, cái đề khởi lên đều là đạo nghĩa, mà không phải tiền tài, không phải là mạng sống, có thể bỏ thân mà thành tựu cho người, bỏ mạng mà giữ nghĩa. Có một người bị dẫn vào gặp Diêm La Vương, Diêm La Vương biết được hắn ta làm giàu bất nhân, có tiền như vậy mà còn giữ tiền, không chịu bố thí cho người khác, làm cho rất nhiều người chết đói, tội nghiệp rất nặng, quá ngu si rồi, phải phán cho hắn ta đến đường súc sinh. Kết quả người này nói với Diêm La Vương:

– Diêm La Vương, Ngài có thể cho tôi làm chó mẹ được không?

Diêm La Vương cảm thấy rất bực mình:

– Tại sao nhà ngươi nhất định phải làm chó mẹ?

Hắn nói:

– Lâm tài mẫu cẩu đắc, lâm nan mẫu cẩu miễn (thấy tiền chó mẹ được, thấy khó chó mẹ bỏ).

Bạn xem, hắn ta vào đến chỗ Diêm La Vương rồi, tâm tham còn chẳng buông xuống nổi!

 

Chú giải của người dịch: Kẻ tội đồ khi gặp Diêm La Vương đọc nhầm một chữ trong câu nói trong Lễ Ký: “Lâm tài vô cẩu đắc, lâm nan vô cẩu miễn” (thấy tiền không vội lấy, thấy khó không vội bỏ), đọc nhầm thành “Lâm tài mẫu cẩu đắc, lâm nan mẫu cẩu miễn” (thấy tiền chó mẹ được, thấy khó chó mẹ bỏ). Ở đây là do nhầm lẫn chữ “Vô cẩu” (毋苟) nghĩa là không được vội vàng, đọc thành “Mẫu cẩu” (母狗), nghĩa là chó mẹ (kẻ học không kỹ sẽ dễ bị nhầm lẫn những chữ viết gần giống nhau).

 

Nhận biết người Nhân đức

Nhân” (仁) là chữ hội ý, ý nghĩa là hai người, một là đại biểu cho chính mình, một là đại biểu cho người khác, nghĩ đến chính mình thì phải nghĩ đến người khác. “Kỉ sở bất dục, vật thí ư nhân. Kỉ sở dục, thí ư nhân. Kỉ dục lập nhi lập nhân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân” (Cái mình không muốn, chớ mang cho người, cái mình muốn, hẵng cho người. Mình muốn tồn tại thì giúp người tồn tại, mình muốn đạt được thì giúp người đạt được). Nơi nơi đều có thể lấy cái tâm đồng lý để cảm nhận nhu cầu của người khác.

1. Người nhân đức thì giữ tâm nhân hậu

Có một ngày, chúng tôi cùng với cô giáo Dương đi mua trái cây, một cụ già đẩy theo một chiếc xe chở trái cây, cô giáo Dương đã mua một số quả chuối mà nếu ngày mốt mà không ăn thì sẽ bị hỏng. Chúng tôi vừa nhìn thấy cảm thấy rất kì lạ, đa số mọi người đều sẽ muốn chọn những quả tốt tốt một chút! Về đến nhà thì cô giáo Dương nói:

– Những trái cây này nếu không mua thì sẽ bị hỏng mất, sẽ phải vứt bỏ, cụ già đó cũng sẽ không kiếm được tiền, chúng ta vì vậy mà phải ăn, thì sẽ không lãng phí.

Chúng ta có thể từ trong một số sự việc, đi quan sát tồn tâm của một người có hay không có đức hạnh, chúng ta phải khéo học tập, mới có thể có được thu hoạch.

Có một lần chúng tôi ở Bắc Kinh tổ chức khoá trình diễn giảng, đến ngày thứ tư, cô giáo Dương từ Sơn Đông kịp ghé qua, cô ngồi trên xe hơi mất mấy giờ đồng hồ. Thế nhưng cô vừa mới tới Bắc Kinh lập tức liền ghé qua địa điểm tổ chức khoá học, lúc đó đã là hơn 8 giờ tối rồi, đây cũng là sự chăm sóc của trưởng bối đối với những người đi sau như chúng tôi, cô đến để thăm hỏi chúng tôi, cũng đi thăm hỏi các đồng học tham gia khoá trình. Những đồng học này nhìn thấy cô giáo Dương rất là hoan hỉ, đã vẫy gọi cô, cô giáo nói với chúng tôi:

– Khoá trình mấy ngày này của chúng ta, nếu như các thầy cô giảng mà không được tốt, các bạn nhất định phải giúp đỡ chúng tôi đưa ra ý kiến, phê bình nhiều.

Cô giáo lại nói:

– Ăn uống, ngủ nghỉ trong mấy ngày này, nếu như sắp xếp có chỗ nào chưa ổn thoả, xin các bạn hãy nêu ra, chúng tôi sẽ lập tức cải tiến.

Sau cùng lại nói:

– Đi học rất là vất vả, các bạn phải nghỉ ngơi thật tốt.

Cô giáo nêu ra ba điểm này, xác thật nơi nơi đều là vì người đời mà suy nghĩ. Cho nên, chúng ta phải noi gương học tập, từ ngay trong mỗi lần nói chuyện với người khác, ở trong lời nói, hành vi đều phải xem xét đến cảm nhận của người khác.

2. Người nhân đức là người lấy thân làm gương.

Khi cô giáo Dương ở Bắc Kinh, đời sống của cô vô cùng có quy luật, đều là ngủ sớm dậy sớm: hai, ba giờ sáng đi ngủ, sáu, bảy giờ sáng thức dậy. Có một đồng tu còn rất trẻ, vừa đúng lúc có cơ hội đến Đại Phương Quảng để phục vụ, trước khi bước vào, Sư Trưởng nói với anh ấy một câu:

– Nếu cô giáo Dương 2 giờ đi ngủ, con cũng không được ngủ trước 2 giờ.

Sau khi vị đồng nhân này đi rồi, cũng tương đối là dũng mãnh tinh tấn, thật sự so với cô giáo Dương không phân cao thấp, rất kì lạ là anh ấy cũng không bị gò bó gì. Xác thật, bầu không khí làm việc quên mình vô hình trung cũng ảnh hưởng đến mỗi một người, mà quan trọng nhất chính là cô giáo Dương đã làm ra một tấm gương cho chúng ta xem.

Ở Hải Khẩu có một vị bằng hữu, anh ấy vốn dĩ là một người hơi lười biếng, kết quả khi anh ấy được điều đi Bắc Kinh làm việc, mỗi ngày cũng là bảy, tám giờ không cần nghỉ ngơi. Anh ấy tự mình cũng cảm nhận rất kì lạ, vì sao đến đó làm việc, toàn bộ tế bào, thần kinh của anh đều thay đổi hết? Xác thật người lãnh đạo của một đoàn thể là quan trọng nhất, nếu như chúng ta là một người lãnh đạo, nhất định phải đích thân đi trước nhân viên, phải lấy thân làm gương.

Tôi đến Liên Xã Đài Trung tham quan nhà tưởng niệm lão sư Lý Bỉnh Nam, ở bên trong tủ kính của nhà tưởng niệm tôi nhìn thấy một cây roi dạy học, ý niệm đầu tiên là Lý lão sư đang cầm cây roi này dùng để kỉ luật học sinh. Người đứng bên cạnh nói:

– Không phải! Đó là có một lần Lý lão sư đang dạy học, học sinh ở dưới cứ ồn ào, sau khi hết buổi học, những học sinh này cảm thấy mình có lỗi, đã cầm lấy một cây gậy đến trước mặt lão sư mà nói: “Thưa Thầy, học trò học không tốt, mong Thầy hãy kỉ luật!”.

Lý lão sư lập tức cầm cây gậy trên tay, sau đó tự đánh vào người của Thầy, thầy nói: “Là ta không có đức hạnh, là ta dạy học không được tốt“. Học sinh đều cảm thấy rất xấu hổ, đã đem cây gậy này cất giữ lại, thời thời cảnh tỉnh bản thân, đối với lão sư phải cung kính, khi lên lớp nhất định phải chuyên tâm. Cho nên, người có đức hạnh thì thời thời đều phải tự mình phản tỉnh, thời thời đều là vì người mà làm gương. Lý lão sư có một câu thơ là:

Vị cải tâm trường nhiệt,

Toàn lân ám lộ nhan,

Đãn năng quang chiếu viễn,

Bất tích tự phần thân.

Tạm dịch:

Nóng ruột tâm chưa sửa;

Thương người đường tối tăm;

Nếu có thể soi sáng;

Chẳng tiếc cháy thân này.

Lão nhân gia thương trời thương người, chưa sửa được tâm nên sốt ruột, thời thời khắc khắc nghĩ đến đại chúng không phải đi trên con đường đó, không phải đi đến con đường mê muội, chỉ cần có thể soi sáng được con đường trước mặt họ, chỉ cần làm cho họ không phải đoạ lạc nữa, thầy không tiếc mà đốt cháy bản thân, chiếu sáng cho người. Cho nên, Lý lão sư đến 97 tuổi vẫn còn dạy học, đây là làm ra cho chúng ta một tấm gương vô cùng tốt.

Trong thời gian ở Đài Trung, tôi rất may mắn có thể đi cầu học rất nhiều trưởng giả, trong đó cũng cầu học ở Thầy Từ Tỉnh Dân. Tôi nhớ lần đó cùng với cô giáo Dương đến nhà của thầy Từ, bởi vì lần đầu tiên lái xe đi đến đó, không biết đường nên tôi đi chầm chậm để tìm đường. Vừa đúng hôm đó lại là đêm giao thừa, cả đoạn đường gặp phải tình trạng kẹt xe. Thật không dễ tìm được đường ra, mà cũng đã trễ mất một thời gian rồi, Thầy Từ là một vị trưởng giả đã hơn 70 tuổi rồi, sợ chúng tôi tìm không ra đường, nên thầy sớm đứng ở giao lộ đợi đón chúng tôi. Lúc đó tôi rất cảm động, thể hội được học vấn tuyệt đối không phải là để nói ra, mà học vấn thật sự là phải làm ra. Thầy đối với người cung kính như thế, không phải bởi vì địa vị, tuổi tác của họ mà có sự thay đổi, đây chính là lấy thân làm gương.

3. Người nhân đức thì nơi nơi đều khiêm cung

Người nhân đức rất khiêm cung, tuyệt đối không giữ công lao. Khổng Phu Tử trong “Luận Ngữ” có nói về bản thân là “thuật nhi bất tác” (thuật lại mà không sáng tác), Ngài chỉ là đem tinh thần, trí tuệ của cổ Thánh tiên Hiền truyền xuống mà thôi, Ngài tuyệt đối không giữ công lao, tuyệt chẳng tự cho là rất cao. Người nhân đức quan trọng nhất chính là thời thời nhìn thấy bổn phận của mình, cho nên lúc họ làm việc, đều cảm thấy đó là việc đáng phải làm, không có gì đáng để khoe khoang, họ thời thời khế nhập vào trong “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi“. Tay phải giúp đỡ tay trái gãi ngứa, tay phải có nói với tay trái là “bạn phải nói lời cảm ơn mình” hay không? Đều là tự nhiên như vậy, làm được tâm an lý đắc, tuyệt đối không phải là cầu sự hồi đáp, cũng không phải là danh văn lợi dưỡng.