CẨM NANG HẠNH PHÚC

Thầy Thái Lễ Húc giảng thuật


CHƯƠNG 3 – SINH HOẠT THIÊN (TRONG ĐỜI SỐNG)

5. DẠY DỖ CON CÁI THÀNH THẬT, GIỮ CHỮ TÍN

Tín (信) là chữ hội ý, là đại biểu cho lời nói của con người

Chữ Tín (信), bên trái là một chữ Nhân (人), bên phải là một chữ Ngôn (言), biểu thị cho lời nói khi đã nói ra rồi thì nhất định phải tuân thủ. Chúng ta từng hay nghe thấy câu cách ngôn, giáo huấn, như lànhất nặc thiên kim” (một lời nói đáng giá ngàn vàng), “nhất ngôn cửu đỉnh” (một lời nói nặng nghìn cân), “nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” (một lời đã nói ra rồi, cỗ xe bốn ngựa khó bề đuổi theo), đều hiển lộ ra việc xem trọng thái độ làm người của Tổ tiên xưa, cũng đau mồm rát họng yêu cầu con cháu đời sau phải tuân thủ những câu cách ngôn, giáo huấn này.

Tín là một trong những biểu hiện quan trọng nhất của Nhân từ, cũng là một trong những quy phạm đạo đức mà nhà Nho xem trọng đề xướng, Khổng Tử bàn luận về chữ Tín rất nhiều, như là:

Dữ bằng hữu giao nhi bất tín hồ?” (Bạn bè qua lại với nhau mà chẳng nhẽ không giữ chữ Tín hay sao?”,

“Kính sự nhi tín” (cung kính với việc mà giữ chữ Tín),

“Cẩn nhi tín” (Cẩn trọng mà giữ chữ tín”),

“Ngôn tất tín” (Lời nói ra ắt phải giữ chữ Tín),

“Dân vô tín bất lập” (người dân mà không giữ chữ tín, làm sao sống trên đời),

v.v…

Dịch truyền – Hệ Từ Thượng” có nói: “Nhân chi sở trợ giả, tín dã” (Người muốn có được sự giúp đỡ của người khác, phải giữ chữ tín vậy”).

Nhà Phật nói:Tín vi đạo nguyên công đức mẫu, trưởng dưỡng nhất thiết chư thiện căn” (Tín là nguồn cội của đạo, là mẹ của các công đức, nuôi lớn tất cả các thiện căn).

Cho nên, việc chung sống, giao lưu, câu thông giữa người với người thì giữ chữ Tín là đứng đầu.

Giữ chữ Tín là cái gốc để đứng vững trong xã hội

“Đệ tử quy” nói: “Phàm xuất ngôn, tín vi tiên” (Phàm nói ra, tín trước tiên), Khổng Tử cũng nói: “Nhân vô tín bất lập“, một người nếu như không có chữ Tín, thì rất khó có chỗ đứng trong xã hội. “Luận ngữ” cũng đề cập: “Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã”, con người nếu như không có chữ tín, thật sự không biết cuộc đời họ còn có thể làm ra được những việc gì? Hiện nay trên thương trường có nói về chữ Tín hay không? Có một số cách nhìn, quan niệm tưởng chừng như đúng mà lại sai, nói rằng không gian trá thì không phải là kinh doanh. Chúng ta giữ chữ Tín như vậy, thật thà như vậy, có phải sẽ bị ăn hiếp hay không? Nếu như chỉ có con cái của bạn nói thành tín, người khác đều không nói thành tín, liệu chúng có thể sống nổi không? Chúng nhất định sống rất tốt, bởi vì chúng sẽ làm Chủ tịch, chúng sẽ làm Tổng giám đốc. Nếu như bạn là khách hàng, bạn muốn tìm người như thế nào để hợp tác? Đương nhiên là tìm người thành tín rồi, người không giữ chữ tín có thể lừa được một lúc, nhưng không thể nào lừa được lâu dài. Bởi vì người hiện đại chịu sự ảnh hưởng của chủ nghĩa công lợi quá lớn, đều hám công thích lợi, tiểu nhân oan uổng làm tiểu nhân, tự làm tổn hại đến phước phần của chính mình, sau này sẽ không có cách gì có được sự tín nhiệm của người khác.

Giữa cha và con phải thành tín

Giữa cha và con nhất định phải nói thành tín, nếu như bạn tùy tiện hứa với con cái, sau đó lại làm ngược lại, thì địa vị của cha mẹ ở trong tâm trí của con cái sẽ bị hạ xuống, cho nên cha mẹ đối với con cái đã nói ra thì phải làm.

Ở thời Xuân Thu ngày xưa có một câu chuyện, một ngày nọ vợ của Tăng Sâm muốn đi chợ mua thức ăn, con trai bà cứ quấy rầy đòi đi cùng, vợ của ông mới nói với con rằng:

– Con không được hư, không đi cùng được đâu, khi nào mẹ về sẽ giết lợn cho con ăn nhé.

Thì con trai của bà mới không quấy rầy nữa, cũng không đòi đi cùng. Kết quả khi vợ của Tăng Sâm từ chợ về nhà, nhìn thấy Tăng Sâm đang ở đó mài đao, vợ của ông rất hốt hoảng, liền chạy đến nói:

– Thiếp chỉ nói đùa vui với con trai thôi mà, dỗ dành nó một chút, sao chàng lại làm thật?

Tăng Sâm liền nói với vợ của ông:

– Nếu như nàng lừa gạt hài tử một lần, có thể những lời mà nàng nói trong cả đời này, nó cũng sẽ không tin nữa, cho nên vẫn phải làm những gì mà nàng đã hứa.

Cho nên, người làm cha mẹ thì “sự phi nghi, vật khinh nặc; cẩu khinh nặc, tiến thoái thác” (việc không tốt, chớ dễ nhận; nếu dễ nhận, tiến lui sai).

Con người thường thường lúc cao hứng thì đều thuận miệng mà hứa hẹn, cách làm này rất không thoả đáng. Hoặc giả rất nhiều người lớn lúc đang còn chơi mạt chược, không luận là trẻ nhỏ có yêu cầu gì, đều là “Được, cho con, cầm lấy đi“, sau đó con cái đã biết được rồi, khi cha mẹ đang chơi mạt chược, là lúc tốt nhất để đòi cái gì đó. Những điều này nhất định phải chú ý, nếu không con cái học được không phải là thật thà, mà là dò lời nói xét sắc mặt. Bạn có phát giác được năng lực quan sát ánh mắt của trẻ nhỏ hiện nay đặc biệt mạnh không? Điều này không tốt, bởi vì nếu như không thật thà, cuộc đời sẽ có rất nhiều vấn đề xảy ra.

Bản thân chúng ta đã giữ chữ tín hay chưa?

Chúng ta phải suy nghĩ lại, chúng ta lớn như thế này rồi, những việc mà cha mẹ sai bảo, cha mẹ giao phó cho chúng ta, có “hành vật lãn” (chớ làm biếng) hay không? Chúng ta đối với với những việc mà đã hứa với người thân, đối với ai thì dễ dàng bỏ qua nhất? Là đối với cha mẹ, đối với chồng, với vợ là những người gần nhất với chúng ta. Những người quan trọng nhất, có ân đức nhất đối với cuộc đời của chúng ta, kết quả là chúng ta ngược lại rất dễ không giữ được chữ tín đối với họ, nguyên nhân là gì? Bởi vì đối với khách hàng mà không giữ chữ tín thì không có tiền, còn đối với cha mẹ không giữ chữ tín nghĩa còn có thể tìm cớ để thoái thác, cho nên con người phải nên suy xét lại. Chúng ta đối với cha mẹ càng phải giữ chữ tín, mới là thái đội chính xác; đương nhiên đối với cha mẹ giữ chữ tín, đối với tất cả mọi người cũng phải giữ chữ tín.

Thuỷ ngô dĩ tâm hứa chi, khởi dĩ tử bối ngô tâm tai. (Từ đầu ta đã hứa trong tâm, há thấy chết rồi lại trái với tâm ta ư?)

Phàm xuất ngôn, tín vi tiên” (Phàm nói ra, tín trước tiên), chúng ta đã nói là phải có tín, đối với lời nói của chính mình nói ra, tuyệt đối phải để trong lòng mà đi làm. Người thời xưa vô cùng giữ chữ tín đối với lời hứa, ở thời đại Xuân Thu, có một người tên là Quý Trát, ông đại diện cho nước Ngô đi sứ đến nước Lỗ, trong quá trình ông đi sứ có đi qua nước Từ, vua nước Từ mời ông dùng cơm. Lúc ăn cơm, vua nước Từ cứ nhìn chăm chú vào thanh bảo kiếm mà Quý Trát đeo trên người, Quý Trát nhìn thấy ánh mắt của nhà vua, thì biết được ông rất yêu thích thanh bảo kiếm này. Thế nhưng y theo lễ nghi mà nói, sứ giả đại diện cho một đất nước đều nhất định phải đeo bảo kiếm, cho nên Quý Trát đã nghĩ ở trong tâm rằng, đợi sau khi hoàn thành nhiệm vụ rồi, sẽ lại đem thanh bảo kiếm này tặng cho nhà vua của nước Từ.

Sau khi Quý Trát đi sứ ở nước Lỗ lại trở về qua nước Từ thì ông muốn đem thanh bảo kiếm tặng cho nhà vua nước Từ, thế nhưng nhà vua đã qua đời rồi. Quý Trát liền đến trước mộ của ngài mà hành lễ với ngài, hành lễ xong, đem thanh bảo kiếm của ông treo lên cây bên cạnh ngôi mộ. Người hầu của ông vừa nhìn thấy đã nói với ông:

– Thưa chủ nhân, Ngài làm như vậy hơi quá rồi, Ngài cũng không hề hứa phải đưa kiếm cho đức vua, dù cho Ngài có hứa phải cho đức vua, nhưng đức vua cũng đã qua đời rồi, căn bản không nhất định phải đem kiếm treo ở đó.

Quý Trát liền nói:

– Thuỷ ngô dĩ tâm hứa chi, khởi dĩ tử bối ngô tâm tai. (Từ đầu ta đã hứa trong tâm, há thấy chết rồi lại làm trái tâm ta ư?)

Tâm ta đã khởi niệm muốn tặng cho ngài ấy, làm sao có thể vì ngài ấy chết rồi mà phản bội lại lời hứa trong tâm ta? Chữ tín của người thời xưa là được xây dựng ở trên khởi tâm động niệm. Chúng tôi nghe thấy câu chuyện như vậy, bản thân cảm thấy rất xấu hổ, thỉnh thoảng thất tín thì cái ý niệm đầu tiên còn nghĩ làm thế nào để đi giải thích, so với người xưa, xác thật là cảm nhận được có khoảng cách nhất định. Có khoảng cách mới có tiến bộ, chúng ta thời thời mà thể hội sự tồn tâm và chừng mực làm người của Thánh hiền nhân, tự nhiên sẽ có thể “đức nhật tiến, quá nhật thiểu” (đức tiến dần, lỗi ngày giảm).

Người đọc sách mà ngôn hành bất nhất là căn nguyên huỷ hoại văn hoá

Chúng ta hồi tưởng một chút, lúc ban đầu văn ngôn văn bị phế trừ, nguyên nhân là ở chỗ không có người đọc văn ngôn văn chăng? Không phải. Ngược lại, chính là người đọc văn ngôn văn đã dẫn đầu đem chúng phế trừ đi, cho nên đọc sách nhiều rồi cũng không có tác dụng. “Đệ Tử Quy” nói: “Bất lực hành, đãn học văn; trưởng phù hoa, thành hà nhân” (không gắng làm, chỉ học văn; chỉ bề ngoài, thành người nào). Những vị thạc sĩ Trung văn, tiến sĩ Trung văn này là dùng chúng để tăng trưởng vẻ bề ngoài, dùng để thu được danh văn lợi dưỡng của bản thân. Khi họ không có nỗ lực làm, họ đối với những lý giải về đạo chính là không, là hư vậy. Khi họ đi dạy văn hoá truyền thống, trong tâm người tiếp nhận giáo dục sẽ cảm nhận như thế nào? Nói một đằng làm một nẻo, điều này thì chẳng phải là hoằng dương văn hoá, mà là huỷ báng văn hoá.

Xác thật văn ngôn văn đã gặp phải kiếp nạn lớn như vậy, vấn đề không ở chỗ những người phế trừ văn ngôn văn. Những người phế trừ văn ngôn văn đó chỉ là ngòi nổ mà thôi, nguyên nhân thật sự là ở đâu? Là người đọc sách ngôn hành không nhất quán. Nếu như người đọc sách có thể đem “Đại Học“, “Trung Dung“, “Đệ Tử Quy” biểu diễn ra được, người tiếp xúc với họ liệu có đem nó huỷ mất không? Không thể nào! Thậm chí còn đứng lên mà học theo. Chúng ta nhìn thấy mấy nghìn năm nay, những người phụng hành giáo huấn của Thánh Hiền này, đều có được sự hỗ trợ của vạn dân.

Hải Khẩu đã sinh ra một vị danh thần, đó là Hải Thụy ở triều nhà Minh, chúng ta đều nghe qua “Hải Thụy từ quan“. Tôi đi đến một nơi nào, hay có thói quen đi tìm hiểu về những người được lưu danh sử sách trong lịch sử ở khu vực đó. Bởi vì họ dùng tấm lòng của mình mà chép lại lịch sử, họ dùng tâm chân thành đối với đất nước và xã hội mà làm ra những phụng hiến. Chúng ta có thể “kiến nhân thiện, tức tư tề” (thấy người, tốt nên sửa mình), cũng có thể hiểu rõ được họ ở nơi đó đã tạo ra sức ảnh hưởng một cách âm thầm lặng lẽ. Tôi vừa bước vào mộ của Hải Thụy, nhìn thấy hai hàng chữ vô cùng chấn động. Hải Thụy nói rằng: “Phấn thân toái cốt toàn bất cổ, chỉ lưu thanh bạch tại nhân gian” (Thân nát xương tan cũng chẳng màng, chỉ lưu thanh bạch tại nhân gian), từ trong hai câu nói này của ông, có thể cảm nhận được đức hạnh của ông vô cùng thanh liêm.

Tôi nhìn thấy khí tiết như vậy của Hải Thụy, lại nhìn thấy sự tích cuộc đời của ông thì rất cảm động. Hải Thụy đến làm quan ở một vùng đất nào, khi ông còn chưa đến, các tham quan ô lại, còn cả ác bá ở nơi đó, đều nhanh chóng trốn đi cho lành, bởi vì họ biết được Hải Thụy là người ngay thẳng không a dua. Chỉ cần nơi nào có Hải Thụy đến, khắp cả nhân dân đều vui mừng chào đón ông. Một người thật sự đem giáo huấn của Thánh Hiền làm ra được, có thể bị người khác phản đối hay không? Không thể nào. Sau cùng, khi Hải Thụy nhậm chức ở Nam Kinh thì qua đời, người xưa vô cùng nhấn mạnh lá rụng về cội, người nhà đem Hải Thụy từ Nam Kinh chuyển về Hải Nam. Khi linh cữu của ông di chuyển qua thành Nam Kinh thì tất cả nhân dân đều tự động mặc vào Hiếu phục, khóc thương ông giống như khóc thương cha mẹ qua đời vậy. Chúng ta từ đây mà xem thấy, người đắc đạo nhiều người giúp, người thật sự nỗ lực thực hành chánh đạo nhất định sẽ thu phục được lòng dân.

Tạo sao Văn hoá truyền thống dân tộc, văn ngôn văn bị phế trừ, đừng trách người khác mà chỉ trách tất cả những người đọc sách Thánh hiền như chúng ta không đem nó mà biểu diễn ra cho thật tốt. Cho nên, chỉ cần chúng ta hiện tại học một câu làm một câu, tin rằng nhất định có thể xoay chuyển được sự hiểu lầm của người đời đối với văn hoá truyền thống, hơn nữa cũng tiến thêm một bước mà bắt đầu thực tiễn học tập noi gương. Chúng ta sinh khởi được tâm vì gia đình, vì xã hội, vì Tổ tiên mà cống hiến thì chúng ta phải thời thời giữ chữ tín với lời hứa của chính mình.

Giữ chữ tín nhất định phải không lừa già dối trẻ

Giữ chữ Tín nhất định phải không lừa già dối trẻ, không được kén chọn đối tượng. Không phải là làm ăn mới không lừa già dối trẻ, phải nên là đối đãi với tất cả người, chỉ cần lời nói ra đều ắt phải làm, không thế thì bạn sẽ phải suy xét thật rõ ràng trước rồi mới hứa hẹn. Cái gọi là “sự phi nghi, vật khinh nặc; cẩu khinh nặc, tiến thoái thác” (việc không tốt, chớ dễ nhận; nếu dễ nhận, tiến lui sai), chỉ cần bạn hứa rồi, thì sau không được hối hận. Thời nhà Hán có một vị Thái thú tên là Quách Cấp, trên đường lúc ông đi qua khu vực mà ông quản lý, có mười mấy bạn nhỏ đều vây lấy ông để thăm hỏi, bọn trẻ rất ngây thơ mà hỏi Quách Cấp rằng:

– Ngài Thái Thú, lần tới lúc nào Ngài lại đến vậy ạ?

Quách Cấp đối với bọn trẻ cũng rất cung kính, nói chuyện với bọn trẻ không hề khinh mạn, trong tâm ông bắt đầu tính toán thời gian lần tới lại quay về đây để tuần tra, sau đó đã nói với các bạn nhỏ về ngày đó.

Đến ngày ông và các bạn nhỏ giao hẹn, ông sắp xếp đến đó trước một ngày, tuỳ tùng của ông cho rằng đại nhân phải vào thành, nên cứ đi thẳng vào trong thành, Quách Cấp nói:

– Không đi nữa, ta với bọn trẻ đã có giao hẹn trước, cho nên hôm nay chúng ta sẽ dựng lều ở bên ngoài thành một đêm, đợi thời gian đã ước hẹn đến, chúng ta mới vào thành.

Ngày hôm sau, lúc Quách Cấp vừa đánh xe đi đến địa điểm giao hạn với bọn trẻ, những đứa trẻ này quả nhiên cũng đang đứng đợi ông ở đó. Sau khi Hán Quang Vũ Đế biết được việc này, vô cùng tôn kính đối với Quách Cấp, còn khen ngợi ông là: “Hiền lương Thái Thú tín chi chí” (Giữ chữ tín đến cùng cực như Hiền lương Thái Thú), chữ Tín của ông đã đạt đến cùng cực, không có khiếm khuyết. Sau cùng Quách Cấp sống đến 86 tuổi, không bệnh tật mà ra đi. Cho nên, chúng ta đối với lời hứa trong chữ tín, phải không phân tuổi tác, giàu nghèo, nghề nghiệp mà đi thực hiện thì cuộc đời chúng ta sẽ đứng vững không vấp ngã.

Thành tín có thể tiêu tai miễn nạn, gặp hung hoá cát

“Phàm xuất ngôn, tín vi tiên; trá dữ vọng, hề khả yên” (Phàm nói ra, tín trước tiên; lời dối trá, sao nói được), nếu như không giữ chữ tín, còn muốn kiếm một số lời dối trá mà che đậy sự thất tín của chính mình, thế thì sẽ tạo thành “thảng yểm sức, tăng nhất cô” (nếu che dấu, lỗi chồng thêm), đến sau cùng người khác mà biết rõ rằng bạn không bằng lòng thừa nhận sự thất tín của chính mình thì thanh danh của bạn sẽ càng dần càng mất đi. Khi bạn xác thật muốn giữ chữ tín, nhưng đúng lúc trên đường đời của bạn xuất hiện khó khăn rất lớn, mà khiến cho bạn không có cách gì thực hiện được lời hứa, lúc này thì phải làm sao? Việc trên thế gian có một từ có thể giải quyết được, chính là chữ “Thành“. Thái độ của chúng ta đối với người với việc có thể bằng tấm lòng chân thành thực sự, khi đối phương thực sự hiểu rõ được tình trạng của bạn, lại hiểu rõ được thành ý của bạn, đối phương cũng sẽ lùi một bước, đây là tâm chân thành của bạn giúp cho chính mình. Nhưng nếu như bạn tiếp tục che đậy, đối phương sẽ càng dần càng phẫn nộ, đến lúc sẽ khó mà chấp nhận được.

Tôi có một người bạn, người thân của anh ấy đang phải gánh rất nhiều nợ nần, anh nghĩ đến bản thân mình phải có trách nhiệm đi trả nợ cho người thân, thế nhưng anh rất lo lắng, chỉ sợ rằng thái độ của đối phương đối với anh ấy không tốt. Bạn bè của anh ấy mới khuyên anh nên chân thành đến nói chuyện với những chủ nợ rằng:

– Các vị hiện nay đòi nợ ráo riết, các vị cũng không được gì, tôi cũng không được gì, bây giờ tôi vô cùng thành khẩn muốn trả tiền, một tháng tôi có thể trả cho các vị bấy nhiêu thôi.

Anh ấy làm theo lời khuyên của người bạn, những chủ nợ của anh ấy rất thông cảm, kết quả là những chủ nợ đồng ý tiếp nhận lòng thành của anh ấy, sự việc đã như vậy thuận lợi mà giải quyết. Cho nên, phương pháp đối nhân xử thế, không cần phải nghĩ quá phức tạp, phải nên dùng thành tín để mà đối đãi.

Tín là tín nghĩa, cẩn thận giữ đạo nghĩa, ân nghĩa, tình nghĩa

Làm người làm việc không những phải nói về chữ tín, mà còn phải có tín nghĩa. Chữ tín chính là nói mà có tín, tín nghĩa chính là làm người làm việc phải có đạo nghĩa, ân nghĩa, tình nghĩa. Mặc dù cha mẹ không hề nói với chúng ta là “con phải hiếu thuận với cha mẹ”, thế nhưng trong lòng chúng ta thời thời suy nghĩ phải hiếu thuận với cha mẹ. Giống mối quan hệ Vua – tôi là mối quan hệ giữa lãnh đạo và người bị lãnh đạo, mặc dù người lãnh đạo không có nói với bạn rằng: “Anh phải trung thành với tôi“, thế nhưng trong tâm chúng ta lúc nào cũng suy nghĩ phải trung thành với chức trách mà mình nắm giữ. Những điều này đều là bổn phận và đạo nghĩa làm người, mặc dù không nói ra bằng lời, nhưng vẫn thời thời không dám quên. Giống như giữa bạn bè với nhau, trong quá trình chung sống, họ có thể đã tiễn chúng ta đi một chặng đường rất dài, sau khi xuống xe rồi, chúng ta cũng rất cảm kích mà nói:

– Cảm ơn bạn! Cảm ơn bạn!

Người bạn sẽ nói:

– Không cần phải cảm ơn đâu, chúng ta là bạn bè tốt mà, không cần phải khách sáo như thế.

Thứ đạo nghĩa của bạn bè như thế này là thời thời đặt ở trong tâm, không cần phải hứa hẹn bằng lời nói.

Chu Thọ Xương từ quan tìm mẹ

Hiếu tử thời xưa, trong lòng lúc nào cũng nhớ lấy ân nghĩa, tình nghĩa làm người. Thời nhà Tống có một người đọc sách tên là Chu Thọ Xương, mẹ của ông không phải là vợ cả, mà vợ cả của cha ông đối với mẹ ông rất hay bài xích, nên đã vẽ ra một số cách để ép mẹ ông cải giá, cho nên khi ông lên 7 tuổi, mẹ ông đã rời xa ông rồi. Đến khi ông lớn lên, niệm niệm suy nghĩ phải đón mẹ về để phụng dưỡng, thế nhưng vẫn chưa có thể như ý nguyện, trải qua tìm kiếm suốt 50 năm nhưng cũng không tìm thấy mẹ. Lúc đó ông cũng có chức quan rất tốt, nhưng trong lòng ông vẫn một mực suy nghĩ chính mình một đời này không thể phụng dưỡng mẹ mà thấy muộn phiền. Do đó, ông đã hạ quyết tâm để từ bỏ chức quan, ông nói với người nhà rằng:

– Lần này ta đi tìm mẹ, nếu như không tìm thấy mẹ, ta sẽ không trở về.

Chu Thọ Xương đang đi trên đường, đột nhiên trời đổ cơn mưa xuống, ông bèn dừng lại ở đó tránh mưa, vừa đúng lúc gặp được rất nhiều người, Chu Thọ Xương liền lễ phép mà hướng về mọi người hỏi thăm xem có nhìn thấy người giống như mẹ của mình hay không, trùng hợp là mẹ của ông cũng đang ở nơi đó. Đây là hiếu cảm động trời đất, do tâm hiếu này mà cảm được trời cao đổ mưa xuống, thành tựu cho các tâm hiếu này của ông. Bởi vì mẹ ông đã cải giá, lại có rất nhiều em trai em gái, ông đều đón mẹ cùng với các em về nhà phụng duỡng, cùng nhau hưởng niềm vui của tình yêu gia đình (thiên luân chi lạc).

Thi Kinh” cũng đề cập đến thứ tưởng nhớ đối với cha mẹ, tình nghĩa đối với cha mẹ thế này. “Thi Kinh – Lục Nga” nói: “Lục lục giả nga, phỉ nga y hao; ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao(cỏ nga đã lớn, chẳng phải cỏ nga cũng là cỏ hao, thương ôi cha mẹ, sinh ta nhọc nhằn). Mặc dù bài văn này nói về thực vật, nói rằng có một số loài thực vật thì cây con và cây mẹ đều nối liền với nhau, không thể chia lìa, mà người con hiếu nhìn thấy một số hiện tượng này của thực vật thì mới tư duy suy nghĩ đến việc phải bầu bạn cùng cha mẹ. Từ trong một số từ trong bài thơ, chúng ta cũng có thể học tập được sự tồn tâm của người xưa đối với cha mẹ.

Hoàng Đình Kiên đổ bô cho mẹ

Thời nhà Tống có một người đọc sách tên là Hoàng Đình Kiên, mặc dù ông làm quan rất lớn, thế nhưng mỗi ngày về nhà, nhất định phải đích thân giúp mẹ cọ rửa bô đựng phân tiểu, dù cho người giúp việc rất nhiều, nhưng việc này ông cũng không sẵn lòng người khác đi làm. Hoàng Đình Kiên ngày ngày đích thân giúp mẹ rửa bô đựng phân tiểu, chính là luôn nghĩ đến ân nghĩa, tình nghĩa của cha mẹ, đây cũng là đạo nghĩa của người làm con, cho nên ông mỗi ngày mà không làm việc đó thì trong lòng không thấy vững chãi, không thấy dễ chịu. Kì thật, người làm con có thể làm đến được phụng dưỡng cha mẹ thì nội tâm sẽ rất vững chãi, phụng dưỡng cha mẹ là phước điền lớn nhất.

Nếu như ta có một cốc nước uống, mẹ ta nhất định có một bát cơm ăn

Có một lần tôi xem truyền hình, xem thấy một đoạn đàm thoại của nghệ nhân Hứa Hiệu Thuấn. Một ngày trước khi xảy ra trận động đất ngày 21 tháng 9 năm 1999 ở Đài Loan, Hứa Hiệu Thuấn đến Tập Tập để chụp hình ngoại cảnh loài sóc bay. Người dân địa phương dẫn họ lên núi, đến đỉnh núi thì thấy vốn dĩ ở đó có rất nhiều sóc bay, vậy mà bây giờ một con sóc bay cũng không có. Việc này khiến cho người dân ở nơi đó vô cùng cảnh giác, cảm thấy điều này rất lạ lùng, nên nhanh chóng xuống núi. Khi tai nạn lớn sắp đến, động vật đều có thể cảnh giác mà nhanh chóng chạy trốn. Sau khi trải qua lần tai nạn này, nhân viên nghiên cứu đi quan sát, không có một con vật nào bị thương. Bởi vì dục vọng của động vật rất thấp, mỗi ngày chỉ cần ăn đủ no là được, không hề nghĩ đến phải làm hại người khác, cho nên trong đầu rất trong sáng, đối với những loại dao động giữa trời đất thế này thì nhạy cảm hơn. Tất cả động vật đều biết được, chỉ có con người là loài động vật duy nhất không biết. Nhưng mới đi được nửa đường, thì xảy ra cơn đại địa chấn ở Tập Tập, những người bạn đi theo ông đều bị thiệt mạng, nhưng Hứa Hiệu Thuấn lại an nhiên không bị gì. Trong lần phỏng vấn đó, Hứa Hiệu Thuấn có một câu nói khiến cho tôi ấn tượng sâu sắc, ông nói:

– Nếu như tôi có một ly nước uống, mẹ tôi nhất định phải có một bát cơm ăn.

Khi tôi nghe thấy câu nói này, thì tôi đã hiểu rõ vì sao ông có thể tránh khỏi được cái kiếp nạn lần đó, là bởi vì tâm hiếu của ông.

Điền Thế Quốc hiến thận cứu mẹ

Trung Quốc Đại Lục chọn ra mười thanh niên đại kiệt xuất, trong đó có một vị hiếu tử tên là Điền Thế Quốc. Anh ấy mới có hơn 30 tuổi, bởi vì mẹ của anh bị bệnh tiểu đường, nhất định phải thay thận thì mới có thể kéo dài mạng sống. Khi mẹ của anh bị bệnh, sợ liên luỵ đến người nhà, nên tự nhốt mình trong phòng không chịu đi bệnh viện. Điền Thế Quốc đã dùng phương tiện khéo léo, không để mẹ mình biết được là anh muốn hiến thận cho mẹ, sau đó mẹ anh tiếp nhận phẫu thuật cấy ghép thận, sức khoẻ được khôi phục rất thuận lợi, thế nhưng mẹ anh đến nay vẫn không biết được đó là do con trai hiến cho. Hành động này của anh khiến cho rất nhiều bạn bè thân thích đều lấy làm cảm động, khi gặp anh đều nói với anh:

– Năm nay không luận là bận rộn thế nào, cũng nhất định phải về nhà thăm hỏi cha mẹ già.

Khi anh được lựa chọn vào mười thanh niên tiêu biểu, anh nói người khác đều rất có cống hiến đối với đất nước, tôi chỉ làm việc mà bản thân một người con người em phải nên làm, chỉ làm có một việc nhỏ chíu xíu thế này, không bằng một phần vạn ân đức của mẹ tôi đã cho chúng tôi, bản thân anh cảm thấy rất lấy làm hổ thẹn. Kì thật, hành vi của một người con hiếu thảo, sẽ có thể dẫn dắt phong khí lương thiện của toàn bộ xã hội, thức tỉnh tâm hiếu của nhiều người hơn, thái độ tri ân báo ân của nhiều người hơn. Hiếu tử thời xưa và hiện nay đã biểu diễn ra những vở tuồng hay như thế, chúng ta cũng phải làm cho những vở tuồng này ở gia đình, xã hội hiện nay không ngừng diễn ra, tin rằng “Thuấn hà nhân dã, dữ hà nhân dã, hữu vi giả diệc nhược thị” (Thuấn là người như thế nào, ta lại là người như thế nào, chỉ cần chăm chỉ không biếng trễ mà làm, cũng có thể giống như Thuấn, được sự ủng hộ và kính ái của nhân dân trong thiên hạ).